Stem Cell Là gì?

​Tế bào gốc là gì?

Lịch sử: từ những năm 1950, các nhà khoa học đã phát hiện ra các kháng nguyên trên màng tế bào và kháng thể cơ thể. Năm 1994, Ariff Bongso, Nhà khoa học người Sri Lanka, là người đầu tiên trên thế giới tách thành công tế bào gốc từ phôi người. Sau đó, rất nhiều Nhà khoa học nổi tiếng khác tiếp tục nghiên cứu và đã có nhiều thành tựu quan trọng trong việc sử dụng tế bào gốc nhằm điều trị, chăm sóc sức khỏe và trẻ hoá làm đẹp.

Cơ thể con người chứa hơn >220 loại tế bào chuyên biệt khác nhau, chẳng hạn như tế bào gan, xương hoặc thần kinh. Mỗi tế bào này thực hiện các chức năng thay thế, bảo vệ và vận hành chức năng cụ thể cho từng cơ quan cần thiết cho sứ mạng tồn tại cuộc sống.
Tế bào gốc là các tế bào sinh học có khả năng biệt hoá thành các tế bào khác, từ đó phân bào để tạo ra nhiều tế bào gốc hơn. Chúng được tìm thấy trong các sinh vật đa bào.  "stem cell" hoặc “Tế Bào Gốc” dùng để chỉ các tế bào chưa biệt hoá để đảm nhiệm chức năng trò cụ thể mà chúng vốn có bổn phận phải phát triển trở thành. Chẳng hạn, một tế bào gan thì không thể sinh ra tế bào thận, nhưng tế bào gốc thì có thể. Bởi thế, tế bào gốc có tiềm năng phát triển thành hầu hết bất kỳ loại tế bào nào tuỳ thuộc cơ thể yêu cầu. 

 

Tế Bào Gốc Là Gì_.jpeg

Ở động vật có vú, có các loại tế bào gốc:

  • Tế bào gốc phôi (Embryonic stem cell), được phân lập từ trong của phôi nang giai đoạn 4-6 ngày đầu thụ tinh.

  • tế bào gốc trưởng thành (Adult stem cell), được tìm thấy trong các mô khác nhau. Trong các sinh vật trưởng thành, tế bào gốc và các tế bào tiền thân đóng vai trò như một hệ thống sửa chữa cho cơ thể, chúng thay thế và bổ sung các tế bào lão hoá hoặc bị hư hại ở người trưởng thành. Trong phôi đang phát triển, tế bào gốc có thể biệt hoá thành các tế bào chuyên biệt - ngoại bì-ectoderm, nội bì-endoderm và nội mạc tử cung-mesoderm, nhưng cũng duy trì số lượng tế bào của các cơ quan tái tạo, chẳng hạn như máu, da, hoặc các cơ quan nội tạng.

Ở con người, có nhiều nguồn đã được biết của các tế bào gốc trưởng thành (Adult Stem Cell) có khả năng sinh ra thế hệ tế bào sau giống như nó (autologous):

1- Bone marrow – Tuỷ xương: được lấy từ phương thức khoan vào xương (điển hình là xương đùi hay xương chậu).

2- Adipose tissue - Mô mỡ (gồm các tế bào mỡ) được lấy bằng phương pháp hút mỡ.

3- Blood - Máu, trong đó máu được rút ra, đi qua máy tách chiết các tế bào gốc.

4- Mesenchymal stem cells – Umbilical cord – MSC (Tế bào gốc cuốn rốn em bé mới sinh - phổ biến nhất) được lấy từ máu dây rốn ngay sau khi sinh.

Tế bào gốc trưởng thành thường được sử dụng trong các liệu pháp y khoa khác nhau (ví dụ, cấy ghép tủy xương do ung thư). Tế bào gốc có thể được phát triển nhân tạo và chuyển đổi (biệt hoá) thành các tế bào chuyên biệt với các đặc tính phù hợp với các tế bào của các mô khác nhau như tuyến tuỵ để chữa bệnh đái tháo đường và dây thần kinh để điều trị bệnh Parkinson’s, Alzheimer, Autism, yếu sinh lý... Các dòng tế bào phôi và các tế bào gốc phôi tự thân sinh ra thông qua việc chuyển gen hạt nhân (Somatic Cell Nuclear Transfer) hoặc biệt hoá ngược (Dedifferentiation) là những phương pháp điều trị rất tiềm năng.

Tính chất của tế bào gốc theo định nghĩa kinh điển, một tế bào gốc phải có 2 yếu tố sau: 

    A-Tính chất tự làm mới (self-renewal): khả năng đi xuyên suốt các chu kỳ sinh sản của tế bào nhưng vẫn giữ được tình trạng không biệt hoá.

Tự làm mới bao gồm hai cơ chế tồn tại để duy trì quần thể tế bào gốc: 

  1. Cơ chế sao chép bất đối xứng bắt buộc (Obligatory asymmetric replication): Một tế bào gốc chia thành một tế bào giống hệt với tế bào gốc ban đầu (Self replicate) và một tế bào con “Daughter cell” khác biệt. Khi tế bào gốc tự tái tạo, nó phân chia và không làm gián đoạn trạng thái không biệt hoá. Sự tự đổi mới này phụ thuộc vào sự kiểm soát chặt chẽ của chu kỳ tế bào cũng như duy trì tính đa năng của tế bào gốc.

  2. Cơ chế biệt hóa ngẫu nhiên (Stochastic differentiation): khi một tế bào gốc phát triển thành hai tế bào con khác biệt, một trong hai tế bào đó phải chịu sự phân bào và tạo ra hai tế bào gốc giống hệt như tế bào lúc đầu.

    B-Tiềm năng (potency): khả năng biệt hoá thành các dạng tế bào chuyên biệt. Trong định nghĩa mới nhất, khả năng này đòi hỏi tế bào gốc phải là totipotent hay pluripotent để có khả năng tạo ra dạng tế bào trưởng thành bất kỳ mặc dù tế bào tiền thân multipotent hay unipotent thỉnh thoảng vẫn được xem như là tế bào gốc

Sơ đồ miêu tả tính tiềm năng và khả năng biệt hóa của tế bào gốc

Tiềm năng (potency) là khả năng biệt hoá tế bào của tế bào gốc.

       a. Totipotent: tế bào gốc totipotent được tạo ra từ một noãn và tinh trùng. Các tế bào totipotent có khả năng biệt hoá thành các dạng tế bào phôi và ngoài phôi.

       b. Pruripotent: tế bào gốc pruripotent là hậu duệ của tế bào gốc totipotent và có khả năng biệt hoá thành các tế bào phát xuất từ bất kỳ lớp mầm nào trong 3 lớp mầm Endoderm, Mesoderm và Ectoderm.

        c. Multipotent: tế bào gốc multipotent có khả năng tạo ra duy nhất các tế bào cùng họ với tế bào đó (thí dụ như tế bào gốc tạo máu thì có khả năng biệt hoá thành hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu…)

        d. Oligopotent: Tế bào gốc Oligopotent có thể phân biệt thành một số loại tế bào, chẳng hạn như các tế bào gốc lymphoid hoặc tủy xương.

        f. Unipotent: tế bào gốc unipotent có khả năng tạo ra duy nhất một loại tế bào nhưng vẫn có tính chất tự làm mới, đây là điểm để phân biệt với tế bào không phải tế bào gốc (thí dụ: tế bào gốc cơ).

Vincenx.png
Vincenx cell.jpeg

Trong thực tế, tế bào gốc được nhận biết bởi khả năng tự làm mới của nó. ví dụ như trường hợp xét nghiệm xác định khả năng cấy ghép của tủy xương hoặc tế bào gốc tạo máu (hematopoietic stem cell) để chữa trị cho bệnh nhân thiếu tế bào gốc tạo máu. Điều này chỉ ra rằng các tế bào có khả năng sản sinh ra tế bào máu trong một thời gian dài. Điều đó cũng cho thấy việc tách chiết các tế bào gốc từ các cá thể đã được cấy ghép, có thể được cấy ghép tiếp cho những bệnh nhân khác không có tế bào gốc tạo máu.

Phân loại tế bào gốc đang dùng cho y khoa hiện đại

 

1-Tế bào gốc phôi thai (Embryonic stem cells)

stem cell therapy.jpeg

Tế bào phôi (ESC) là tế bào của khối lượng tế bào bên trong của phôi nang, phôi giai đoạn đầu. Phôi người đạt đến giai đoạn phôi nang giai đoạn 4-6 ngày sau khi thụ tinh, vào thời điểm đó chúng chứa 50-150 tế bào. Các tế bào ESC là dạng tế bào vạn năng pluripotent và biệt hoá cũng như phát triển thành tất cả các tế bào chuyên biệt của ba lớp mầm sơ cấp: ectoderm, endoderm và Mesoderm. Nói cách khác, chúng có thể phát triển thành từng loại tế bào trong hơn >220 loại ở cơ thể người trưởng thành. Trong quá trình hình thành và phát triển phôi thai, khối lượng tế bào trong phôi được liên tục nhân lên về số lượng và trở nên chuyên biệt về đặc tính. Ví dụ như một phần ngoại bì (ectoderm) của phôi sẽ biệt hoá thành "neurecderm"- sẽ trở thành hệ thần kinh trung ương (Central Nervous System) trong tương lai. Sau đó, quá trình tạo tế bào thần kinh sẽ hình thành các dây thần kinh từ neurectoderm. Ở giai đoạn tạo dây thần kinh, một phần tế bào tiền thân sẽ trở thành "tế bào máu" của não

Trong quá trình phát triển này, các tế bào chính của hệ thần kinh trung ương được coi như là tế bào gốc thần kinh. Các tế bào gốc thần kinh này là những tế bào đa năng pluripotent, chúng có thể tạo thành rất nhiều dạng neuron thần kinh khác nhau, mỗi loại sẽ có những biểu hiện gene cũng như hình thái và cấu trúc chức năng riêng biệt. Quá trình hình thành các neuron thần kinh từ tế bào gốc được gọi là neurogenesis. Một ví dụ điển hình của tế bào gốc thần kinh xuyên tâm (radial glial cell), loại tế bào có hình thái lưỡng cực đặc trưng cũng như sở hữu các tính chất của dòng tế bào glial, đáng chú ý nhất là biểu hiện của glial fibrilary acidic protein (GFAP). Các tế bào thần kinh sẽ được giới hạn biệt hoá chỉ thành các dòng tế bào thần kinh (neurons, atrocytes và oligodendrocytes).

 

Tế bào gốc phôi thai của người được định nghĩa bởi sự biểu hiện của rất nhiều các yếu tố phiên mã và các protein bề mặt tế bào. Các yếu tố phiên mã như Oct-4, Nanog và Sox2 là mạng lưới điều hoà cốt lõi để đảm bảo sự biểu hiện của gene trong quá trình biệt hoá hay duy trì tính đa năng. Bề mặt tế bào kháng nguyên được sử dụng phổ biến nhất để xác định các tế bào gốc phôi người là kháng nguyên glycolipids 3 và 4, cũng như các kháng nguyên keratan sunfat Tra-1-60 và Tra-1-81. Bằng cách sử dụng tế bào gốc phôi người để tạo ra các tế bào đã biệt hoá như tế bào thần kinh hoặc các tế bào tim trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học có thể tiếp cận các tế bào gốc trưởng thành (Adult stem cell) mà không cần lấy mô từ bệnh nhân. Sau đó, họ có thể nghiên cứu những tế bào trưởng thành đã biệt hoá này để thử và nắm bắt các biến chứng của bệnh tật, hoặc để nghiên cứu tế bào phản ứng với các thuốc mới tiềm năng.

 

Hiện tại phương pháp điều trị sử dụng tế bào gốc phôi được chấp nhận. Thử nghiệm trên người được phê duyệt lần đầu tiên bởi Cơ quan (FDA) Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2009.

Dòng tế bào gốc phôi thai được nuôi cấy từ các tế bào dẫn xuất từ mô ngoại phôi bì (epiblast) của khối lượng tế bào bên trong của một túi phôi. Túi phôi là giai đoạn sớm nhất của phôi, hình thành từ khoảng 4-6 ngày, và chứa khoảng từ 50-150 tế bào. Tế bào gốc phôi thai thuộc loại pruripotent và suốt quá trình phát triển có khả năng biệt hoá từ một trong 2 lớp phôi: ngoại bì (ectoderm), nội bì (endoderm) và trung bì (mesoderm). Ngoài ra, tế bào gốc phôi thai còn có thể phát triển thành một trong hơn >220 dạng tế bào của cơ thể trường thành nếu được kích thích đầy đủ và cần thiết.

 

Tế bào gốc phôi thai ở người còn được xác định bằng sự hiện diện của nhiều yếu tố sao chép và protein bề mặt tế bào. Các yếu tố sao chép như Oct-4, Nanog và SOX2 tạo thành mạng điều hoà nhân, đảm bảo cho việc tiêu diệt các gen dẫn đến sự biệt hoá và duy trì tính chất pluripotent. Kháng nguyên bề mặt tế bào thường được dùng nhất để xác định tế bào gốc phôi thai là glycolipid SSEA3, SSEA4 và antigen sulfat keratan Tra-1-60 và Tra-1-81. Bằng cách sử dụng tế bào gốc phôi người để tạo ra các tế bào biệt hoá như tế bào thần kinh hoặc các tế bào cơ tim trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học có thể tiếp cận các tế bào trưởng thành mà không cần lấy mô từ bệnh nhân. Sau đó, họ có thể nghiên cứu những tế bào trưởng thành đã biệt hoá này để thử nghiệm và nắm bắt các biến chứng của bệnh tật, hoặc để nghiên cứu phản ứng của tế bào với các thuốc tiềm năng mới.

-Tế bào gốc bào thai có 2 loại:

       A. Tế bào gốc nguyên thuỷ từ bào thai (Fetal proper stem cell) xuất phát từ mô của thai nhi, và thường được lấy sau quá trình phá thai. Những tế bào gốc này không phải là bất tử, nhưng có mức độ phân chia cao và đa dạng.

 

      B. Tế bào gốc bào thai ngoài tử cung (Extraembryonic Fetal stem cell) xuất phát từ màng thừa của phôi, và thường không phân biệt với tế bào gốc người lớn. Các tế bào gốc này được thu nhặt sau khi sinh. Mặc dù các tế bào này không phải bất tử, nhưng là tế bào đa năng pluripotent và có mức độ phân chia tế bào cao.

2-Tế bào gốc trưởng thành - Adult stem cell

Bone-Marrow-Stem Cell.jpeg

 

Sự phân chia và biệt hóa của tế bào gốc:

Tế bào gốc trưởng thành (Adult stem cell), còn được gọi là tế bào gốc sinh dưỡng (somatic), là tế bào gốc duy trì và sửa chữa các mô bị tổn thương. Chúng có thể được tìm thấy ở trẻ em, cũng như người lớn.

 Các tế bào gốc người trưởng thành đa số hiếm và nói chung là nhỏ về số lượng, nhưng chúng có thể được tìm thấy ở trong máu dây rốn và ở các mô khác. Tủy xương là nơi phong phú các tế bào gốc trưởng thành, đã được sử dụng trong điều trị một số bệnh bao gồm xơ gan, thiếu máu cục bộ mạn tính và suy tim, đột quỵ... Số lượng tế bào gốc tủy xương giảm theo tuổi và lớn hơn ở nam giới so với nữ giới trong những năm sinh đẻ. Hầu hết mọi nghiên cứu về tế bào gốc trưởng thành cho đến nay đều nhằm mục đích nắm bắt được tính tiềm năng (potency) và năng lực tự làm mới (self-renewal) của chúng. Theo thời gian, các thương tổn DNA sẽ được tích tụ ở tế bào gốc và cả các tế bào khác ở môi trường bao quanh tế bào gốc. Sự tích tụ này lý giải cho sự rối loạn chức năng của tế bào gốc bị khi lão hóa.

Hầu hết các tế bào gốc người lớn đều bị hạn chế về khả năng biệt hoá (chúng là dạng tế bào multipotent) và thường được gọi bởi nguồn gốc mô của chúng (tế bào gốc trung mô, tế bào gốc có nguồn gốc từ mỡ, tế bào gốc nội mô...). Các tế bào Muse (multi-lineage differentiating stress enduring cells) là một loại tế bào gốc đa năng mới được phát hiện thấy trong các mô người trưởng thành, bao gồm cả chất béo, các nguyên bào sợi da, và tủy xương. Mặc dù các tế bào muse có thể nhận biết được bằng SSEA-3, một dấu hiệu của các tế bào gốc không biệt hoá và các dấu hiệu tế bào gốc trung mô nói chung như CD105. Trong quá trình nuôi cấy, các tế bào sẽ tạo ra những cụm có hình thái giống như các phôi cũng như biểu hiện gen, bao gồm các dấu hiệu nhận biết như Oct4, Sox2, và Nanog.

 

Các phương pháp điều trị bằng tế bào gốc người trưởng thành đã được sử dụng thành công trong nhiều năm để điều trị bệnh bạch cầu và ung thư xương / máu liên quan đến việc cấy ghép tủy xương. Các tế bào gốc người trưởng thành cũng được sử dụng trong ngành thú y để điều trị chấn thương dây chằng và dây chằng ở ngựa.

Do đó chính phủ Hoa Kỳ đang đầu tư rất nhiều vốn để cung cấp tài trợ cho nghiên cứu tế bào gốc người trưởng thành.

3-Tế bào gốc dịch màng ối (Amniotic Stem Cell)

 Các tế bào gốc đa năng cũng được tìm thấy trong dịch màng ối. Các tế bào gốc này rất hoạt hoá, có khả năng di chuyển rộng mà không cần nguồn dinh dưỡng. Tế bào gốc buồng ối là tế bào đa năng multipotent và có khả năng biệt hoá thành các dòng tế bào của các tuyến adipogenic, osteogenic, myogenic, endothelial, hepatic và nơ-ron thần kinh. Tế bào gốc buồng ối hiện đang và sẽ là một chủ đề nghiên cứu rất hứa hẹn.

 

Sử dụng các tế bào gốc từ nước ối không còn mắc phải các phản đối về mặt đạo đức đối với việc sử dụng phôi người cho nghiên cứu. Giáo huấn Công giáo Rôma đã cấm việc sử dụng tế bào gốc phôi thai trong thử nghiệm; theo đó, tờ Vatican "Osservatore Romano" gọi là tế bào gốc buồng ối "tương lai của y học".

 

Có thể thu thập các tế bào gốc nước ối cho các nhà tài trợ hoặc cho điều trị tự trị: ngân hàng tế bào gốc ối Hoa Kỳ đầu tiên được khai trương vào năm 2009 tại Medford, MA bởi Tập đoàn Biocell Center và cộng tác với nhiều bệnh viện và các trường đại học trên khắp thế giới.

4-Tế bào gốc "vạn năng cảm ứng" (Induced Pluripotent Stem Cells- iPSC)

IPSCell.jpeg

Tế bào gốc người lớn có những hạn chế về mặt tiềm năng; không giống như ESCs, chúng không thể phân biệt thành các tế bào từ cả ba lớp mầm. Như vậy, chúng được cho là tế bào đa năng multipotent.

Tuy nhiên, việc lập trình lại cho phép tạo ra các tế bào vạn năng pluripotent từ tế bào người trưởng thành. Điều quan trọng cần lưu ý rằng đây không phải là các tế bào gốc người trưởng thành, mà là các tế bào đã biệt hoá (ví dụ như tế bào biểu mô) được lập trình lại để làm phát sinh khả năng đa năng pluripotent của tế bào. Sử dụng tái lập trình di truyền (genetic reprogramming) với các protein phiên mã, các tế bào gốc đa năng với khả năng tương ứng tế bào gốc phôi ESC được tạo thành. Các tế bào gốc iPSC lần đầu tiên được nghiên cứu và thử nghiệm thành công bởi Shinya Yamanaka (Bác sỹ y khoa nhận được giải Adult Stem Cell-iPSC Nobel 2012 Gladstone Institutes, San Francisco, CA, USA. Bs. Shinya sử dụng 4 yếu tố phiên mã Oct3 / 4, Sox2, c-Myc, và Klf4 để tái lập trình các tế bào nguyên bào sợi chuột thành các tế bào vạn năng pluripotent.

Các nghiên cứu tiếp theo sử dụng những yếu tố này để tạo ra sự đa năng trong tế bào nguyên bào sợi người. Junying Yu, James Thomson, và các đồng nghiệp của họ tại Đại học Wisconsin-Madison đã sử dụng một bộ các nhân tố khác nhau, bao gồm Oct4, Sox2, Nanog và Lin28, và thực hiện các thí nghiệm của họ bằng cách sử dụng các tế bào từ da người. Việc họ đã có thể lặp lại kết quả của Yamanaka chỉ ra rằng sự tạo tế bào gốc vạn năng pluripotency là hoàn toàn có thể.

 

Điều quan trọng cần lưu ý là iPSC và ESCs không tương đương. Chúng có nhiều tính chất tương tự, ví dụ như tính đa năng và khả năng biệt hoá, sự biểu hiện của gen đa năng, mô hình biểu sinh (epigenetic patterns), cơ thể phôi và quá trình hình thành teratoma và sự hình thành chimer. Tuy nhiên, tương tự không có nghĩa là chúng như nhau. Trong thực tế, có rất nhiều sự khác biệt giữa các thuộc tính này. Điều quan trọng là chromatin của iPSC dường như bị "đóng" hoặc bị methyl hóa hơn so với các ESCs. Tương tự, mô hình biểu hiện gen giữa ESCs và iPSCs, hoặc thậm chí cả iPSCs đều có nguồn gốc khác nhau. Có những câu hỏi về "sự hoàn chỉnh" của việc lập trình lại các tế bào gốc đa năng iPSC. Mặc dù vậy, việc biến tế bào người trưởng thành thành tế bào vạn năng pluripotent là khả thi.

 

Kết quả của sự thành công của những thí nghiệm này, Ian Wilmut, người đã giúp tạo ra động vật nhân bản đầu tiên - Chú cừu Dolly (Chú cừu sinh trong ống nghiệm – từ tế bào da cừu).

Hơn nữa, các tế bào gốc iPSC mang lại nhiều ưu điểm trong điều trị. Giống như ESC, iPSC đều là những tế bào vạn năng pluripotent. Do đó chúng có khả năng biệt hoá rất cao; Về mặt lý thuyết, chúng có thể tạo ra bất kỳ tế bào nào trong cơ thể con người (nếu tế bào iPSC được tạo ra một cách "hoàn chỉnh"). Hơn nữa, không giống như ESCs, họ có khả năng cho phép các bác sĩ tạo ra một dòng tế bào gốc đa năng pluripotent cho từng bệnh nhân. Trên thực tế, các mẫu máu đông lạnh có thể được sử dụng như một nguồn cung cấp tế bào gốc đa năng pluripotent, mở ra một con đường mới cho việc thu hoạch các tế bào có giá trị. Các tế bào gốc đặc hiệu cho bệnh nhân cho phép sàng lọc các tác dụng phụ trước khi điều trị bằng thuốc, cũng như giảm nguy cơ thải loại trong cấy ghép tế, việc sử dụng iPSCs trong điều trị y tế và nghiên cứu rất tiềm năng trong tương lai.

 

Ngoài ra, tế bào gốc còn có thể chia ra thành tế bào gốc nội sinh và ngoại sinh. Tế bào gốc nội sinh là các tế bào gốc có sẵn trong cơ thể chúng ta. Tế bào gốc ngoại sinh là các tế bào gốc được lấy ra từ cơ thể người cho, sau đó được sử dụng các phương pháp để tăng sinh trong phòng thí nghiệm, rồi được cấy ghép trở lại cơ thể người bệnh – phương pháp này còn được gọi là liệu pháp cấy ghép tế bào gốc ngoại sinh.

5- Tế bào gốc trung mô - Mesenchymal Stem Cell – MSC

Tế Bào Gốc Là Gì_.jpeg

Tế bào gốc trung mô (MSC) còn được gọi là tế bào mô đệm trung mô (stromal) hoặc tế bào tín hiệu thuốc, là tế bào mô đệm đa năng (multipotent) có thể biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau, bao gồm nguyên bào xương (osteoblast)), tế bào chondrocytes (tế bào sụn), myocytes (tế bào cơ) và tế bào mỡ. (fat cell & adipose tisue) và tất cả tế bào cơ quan trong cơ thể con người.

 

Điều trị liệu pháp tế bào gốc  <

Liệu pháp tế bào gốc là việc sử dụng tế bào gốc trong điều trị hoặc ngăn ngừa bệnh. Cấy ghép tủy xương là một hình thức liệu pháp tế bào gốc đã được sử dụng trong nhiều năm mà không có bất kỳ tranh cãi hay phản ứng phụ nào. Điều trị bằng tế bào gốc có thể làm giảm các triệu chứng và tình trạng của bệnh. Việc làm giảm các triệu chứng có thể cho phép bệnh nhân giảm lượng thuốc trong việc điều trị bệnh, tái tạo tế bào mới thay thế tế bào già nua hay cơ quan nội tạng bệnh tật thay vì phải giải phẩu cắt bỏ hay thay thế ghép nội tạng, tế bào gốc đảo ngược tuổi gìa, kéo dài tuổi thọ và nhìn trẻ hoá da ngoài hơn 10~20 năm. Điều trị bằng tế bào gốc mở ra các hướng điều trị mới trong tương lai y học hiện đại.

4 loại stem cells đang dùng trong y hoa hiện đại:

  1. Embryonic stem cells – ESC (Tế bào gốc em bé trong bào thai – ít dùng nhất vì vấn đề nhân bản)

  2. Adult stem cells – ASC (Tế bào gốc tự thân lấy từ: tuỷ - máu – mỡ)

  3. Induced pluripotent stem cells – IPSC (Tế bào nuôi trong phòng thí nghiệm – rất mắc và tốn nhiều thời gian trờ đợi nhân tế bào 2-8 tuần)

  4. Mesenchymal stem cells – Umbilical Cord  - MSC (Tế bào gốc cuốn rốn em bé mới sinh – Được FDA Hoa Kỳ cấp phép sử dụng, phổ biến, nhân bản (chiết xuất từ gene người không phải từ động vật hay thực vật**), an toàn, không tác dụng phụ & hiệu quả nhất trong y khoa chữa bệnh, phòng bệnh và trẻ hoá đảo ngược)

**Không phải tất cả #Tế Bào Gốc điều giống nhau, nên hỏi xuất xứ, giấy chứng nhận nguồn gốc, mã số nguồn gốc, chiếc xuất từ đâu... Không nên sử dụng tế bào gốc chiết xuất hoặc lấy từ động vật vì vấn đề đạo đức và nhất là khác gene với con người, ví dụ như ta ghép cây mai vào con cá vàng chắc chắn sẽ không thành công, sẻ gây biến thể, biến đổi gene, tự đào thải  và thậm trí làm chết cả 2. Trên thị trường hiện nay rất nhiều loại tế bào gốc lấy từ động vật như ở Châu Âu: Đức, Thuỵ Sỷ, Thuỵ Điển chiết xuất tế bào gốc từ nhau thai cừu (Sheep),ở Châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc chiết xuất từ nhau thai heo (Pig) và nhiều động vật khác nữa… không tiện nói ra ở đây.

  • Fountain of Youth – làm đẹp & trẻ hoá, đảo ngược già nua 10~20 năm

  • Yếu sinh lý cả nam nử

  • Diabetic type 1 & 2- Tiểu đường loại 1 & 2

  • Rheumatoid - đau khớp

  • Osteoarthritis - Viêm xương khớp

  • Ligament, tendon & disc repair – chữa dây chằng, gân & đĩa đệm

  • Spine disease – bệnh đau lưng, cột sống, thoát đĩa đệm

  • Stroke - tai biến mạch máu não và chấn thương sọ não

  • Heart Attack – nhồi máu cơ tim

  • Bệnh Parkinson

  • Bệnh Alzheimer – mất trí nhớ

  • All kinds of cancer – các loại ung thư (gan, phổi, tuyến tuyền liệt, tuyến tuỵ…)

  • Infertility – vô sinh cả nam & nữ

  • Arteriosclerosis – xơ cứng động mạch

  • After surgy – mau lành vết thương sau đại phẩu

  • Autism – trầm cảm ở trẻ em

  • Badl – hói đầu

  • Increase self immunity – tăng sức đề kháng phòng ngừa bệnh nan y.

  • Covid 19 – sữa chữa lá phổi sau biến chứng nhiễm Covid virus

Tiềm năng trong sử dụng tế bào gốc trung mô MSC từ nhau thai em bé trong điều trị bệnh bao gồm:

Adult+Stem+Cells.jpeg